Quê tôi ngày xưa có những hình ảnh thật đẹp, trước khi bị tàn phá bởi việc đô thị hoá sau này. Ngày đó là những năm thanh bình, không tiếng súng của thời Đệ Nhất Cộng Hoà. Nhà tôi gần chợ Bà Chiểu, cách chợ Bến Thành chừng năm cây số, nhưng thật sự có thể xem là nhà quê. Điện còn chưa có cơ hội giúp tỏa sáng cho xóm làng, nên nhà nhà đều dùng đèn dầu lửa. Khi nào cần thật nhiều ánh sáng (như trong các buổi tiệc tùng, đám cưới, đám tang ...) người ta thắp đèn manchon.
Nhưng vì thiếu ánh sáng của miền đô thị mà nhà “quê” chúng tôi có thể đêm đêm ngắm ánh sao trời, có thể hưởng thụ cái êm dịu của ánh trăng đêm. Kỷ niệm của những ngày còn nhỏ của chúng tôi là những giây phút êm đềm trong ánh trăng đêm với những h́ình ảnh khó lòng tìm lại được vào thời buổi bây giờ. Những đêm có trăng sáng là những đêm lũ trẻ chúng tôi cố gắng chơi trò chơi còn chưa kịp chơi lúc ban ngày, là những lúc gia đình (từ ông bà, cha mẹ, đến con cái) quây quần trên chiếc chiếu trải trên sân, tránh cái oi bức trong nhà và trò chuyện đủ điều. Đến khi lớn lên tôi mới hiểu rằng chính những lúc đó gia đình chúng tôi gần gũi nhau hơn, quý báu dường bao! Trăng sáng qua cành tre, trên đầu ngọn cây vông có hoa đỏ, trên mái nhà, dịu hiền như tấm lòng của người mẹ, ấp yêu. Văng vẳng từ xa một giọng hát mùi mẫn của một người thiếu nữ đang hát bài vọng cổ, pha với lời hò trêu ghẹo của một người nam....Những hình ảnh đó, những âm thanh đó đều được “cho không, biếu không” mà chúng tôi không tìm, lại được!
Nhà tôi có luỹ tre bao quanh, với đủ loại tre như tre gai, tầm vông, tre mỡ, tre tàu... Vào mùa mưa, măng non thi nhau mọc và để tránh tre lan tràn quá mức, mẹ tôi phải “xắn” măng làm thức ăn đủ loại (ăn liền như măng xào, măng kho, măng làm chả chưng, măng tươi nấu canh hay làm dưa chua để ăn từ từ). Độc đáo nhất là món măng chua (cắt thành hình khối vuông, mỗi bề chừng 1 cm) nấu theo kiểu ragout, hài hòa nửa tây, nửa ta mà tôi không thể tìm được cách nấu trong sách dạy nấu ăn bằng tiếng Việt hay bằng tiếng Anh, tiếng Pháp. Giờ đây, mẹ tôi đã qua đời từ rất lâu, nhưng mỗi lần nhớ đến mẹ, tôi lại nhớ đến món măng này mà từ ngày mẹ tôi qua đời, tôi không bao giờ còn có dịp nếm trở lại.
Tre còn nhiều kỷ niệm khác trong tôi. Khó quên nhất là hình ảnh hoa tre (tầm vông) mà tôi từng may mắn được nhìn thấy, một thứ hình ảnh rất hiếm hoi, ít ai có thể nhìn được, suốt đời. Có lẽ chỉ vì tôi may mắn sống đúng nơi, đúng thời; một trong những cái may mắn mà trời đã ban cho tôi.
Còn nữa, tiếng tre xào xạc trong gió sớm, khi Đông về. Khí trời lành lạnh, thức sớm, trằn trọc trong chăn chưa muốn ra khỏi giường. Ngoài kia mặt trời vẫn chưa lên, xóm giềng chưa ai tỉnh giấc, im lìm, tĩnh mịch. Đột nhiên gió nhẹ làm lá tre xạc xào, với một thứ âm thanh vừa đủ nghe cho người muốn nghe. Từ xa vọng về tiếng chuông mõ của người làm công phu sớm, thoang thoảng, lúc có lúc không, dường như tiếng chuông của Hàn Sơn Tự ở bến Cô Tô. Đẹp vô ngần!
Quê tôi còn có một đường hố mà trong Thế Chiến Thứ Hai người ta đào để trốn bom đạn từ máy bay oanh tạc. Đầu đường là một chỗ đường dốc dốc để người ta có thể đi xuống, đi lên. Cuối đường là vùng đất ruộng với một bến đổ cho ghe, với con rạch nhỏ để cho lủ con nít tập bơi (bằng bập dừa), với hàng bần chua kéo dài ra tận sông Sài Gòn. Đường hố có hai hàng tre dài phủ che, dày đến nổi từ không trung người ta không thể khám phá phía dưới có đường. Phong cảnh rất hữu tình, nên nhóm học sinh trường Mỹ Thuật Gia Định thường tụ tập về đây, tập vẽ. Lúc còn nhỏ, tôi thường say mê đến đây để nhìn tấm vải trắng từ từ có hồn, biến thành những tấm tranh mà trong mắt tôi thời ấy là những tấm tranh tuyệt đẹp tuy người vẽ chưa thành họa sĩ thực thụ.
Những thửa ruộng ở cuối đường hố còn đầy ấp kỷ niệm của tôi lúc thiếu thời. Thích thú nhất là những khi đi học về, tôi không đi thẳng về nhà mà theo đường vòng qua đất ruộng. Hôm nào đi học về một mình, tôi trèo lên các cây trâm (hoang) dọc theo đường đê, một mình một cõi, tha hồ thưởng thức những trái trâm chín đỏ (tím). Khi có bạn đi cùng, chúng tôi xuống ruộng, thi nhau bắt cá lia thia, cá bã trầu đem về nhà nuôi (để cuối cùng bị mấy chú thằn lằn ranh mãnh, thòng đuôi “câu” cá của chúng tôi!). Có khi chúng tôi tranh nhau xuống ao, tập bơi. Ai chưa biết bơi thì nằm vắt vỏng trên phao (làm bằng ruột bánh xe hơi) xem những đứa khác bơi. Có khi chúng tôi tụm năm, tụm bảy, bày trò tát ao, bắt cá, vui thật là vui.
Ngày xưa tôi thích học thuộc lòng những đoạn văn hay, để dùng “tạm” mỗi khi làm luận văn. Khi tôi đọc Cậu bé nhà quê của nhà văn, nhà giáo Nguyễn Lân, tôi nhớ mãi câu ”Gà vừa gáy sáng, trời mới rạng đông, vầng ô đỏ ối cánh đồng, sương mù che phủ mênh-mông một vùng”. Hình ảnh đó làm tôi náo nức muốn được chính mắt chứng kiến cảnh rạng đông ở nhà quê. Nhiều hôm, tôi cố gắng thức sớm, trước khi mặt trời mọc, theo đường hố đi ra ruộng để mải mê nhìn cảnh màu trời dần dần đồi màu từ xám, sang vàng, sang đỏ và mặt trời từ từ nhô lên khỏi chân trời, lên cao khỏi ngọn dừa. Một ngày mới vừa bắt đầu, trong lành, chưa bị vẫn đục, tựa như một đứa bé sơ sinh. Tất cả diễn ra trong cái yên lặng của nhà quê. Âm thanh không bị xáo trộn bằng tiếng người, tiếng động cơ, tiếng còi xe (như bây giờ). Những giây phút đó quả là những giây phút thần tiên.
Ngày xưa đó ruộng còn sót lại một vài người tiếp tục làm ruộng. Xa xa lác đác vài mái nhà tranh. Ban ngày người ta còn cấy lúa, gặt lúa, còn cắm câu. May mắn cho tôi được sống những ngày ở “nhà quê” ngay ở ngoại ô của Sài Gòn, trước khi tất cả bị thay đổi vì chiến tranh, vì dòng người từ tứ xứ đổ về. Còn nhớ những ngày hoàng hôn rủ xuống bờ đê, chầm chậm như không nỡ. Trời cứ tím dần và nhà ai bắt đầu “lên đèn”. Phải sống trong cái tĩnh mịch đó mới cảm thông được câu “hoàng hôn buồn mênh mông” trong bài “Trên bến sông buồn”. Buồn nhưng không biết vì sao. Nhưng lại buồn hơn khi chiều nay vắng bóng người con gái mới lớn chiều hôm nào cùng đi dạo chung ở bờ đê, vân vê chiếc khăn tay, nửa như muốn mở lời, nửa như ngại ngùng, lại thôi.
Xa rồi những ngày đó ở quê cũ. Trong tất cả hình ảnh như sương như khói còn lại trong ký ức, còn có một hình ảnh thật rõ, dù chỉ là một chiếc bóng. Đó là hình ảnh người mẹ thân yêu. Còn nhớ hôm nào con đi học về trễ, mẹ trông đứng trông ngồi, thấp thỏm đợi chờ mà không biết phải làm sao. Mẹ vui mừng khi nhìn thấy thằng con lủi thủi bước vô nhà. Thằng con nói dối: tại vì .....Mẹ biết con nói dối, nhưng cứ lờ đi, và còn bao che, không méc với cha. Mẹ sẵn sàng tha thứ cho con.
Nhớ ngày nào mẹ tôi chắt chiu, tiết kiệm từng đồng, từng cắc để có đủ tiền cho thằng con đóng tiền học, có tiền đổ xăng cho xe gắn máy. Ngày xưa tôi thấy đau lòng khi khám phá rằng mẹ không dám xài những đồng tiền đó để mua đôi kính lão dù mắt người bị lão hóa và người không thể luồn chỉ qua kim. Nếu giữa con và mẹ có một người phải khổ, mẹ sẵn sàng chấp nhận làm người đó thế cho con.

