Ai thích Vọng cổ, nhưng không có điều kiện tìm hiểu, xin mời xem Phi Vọng cổ bất thành cải lương để xem nghệ sĩ Chí Tâm trình bày những nét căn bản về Vọng cổ. Xem để biết một lỗi mà nhiều người mắc phải là 2 từ “ca” và “hát” thường được sử dụng không đúng cách khi nói về “cải lương” và “Vọng cổ”.
|
Xem để biết nguồn gốc của “song lan”, biết các nhạc cụ trong “dàn đờn” Vọng cổ, biết cách các nhạc công hòa hợp để nâng cao tiếng đàn của 1 người khác trong dàn đờn, và biết CB (Ca Bịa) được dùng trong trường hợp nào. Người miền nam, không ai xa lạ gì với “rành 6 câu” (Vọng cổ) - ý muốn chỉ “rành rọt”; hay “bài bản” – ý muốn chỉ “theo đúng quy trình”, có đầu có đuôi. Bản Vọng cổ khác với bài Vọng cổ ở chỗ bản Vọng cổ là 1 thể điệu trong nhạc cải lương, có ký âm, giống như 1 bản nhạc không lời; trong khi bài Vọng cổ là lời ca viết theo điệu Vọng cổ. |
Người ta có thể ca 1 bài Vọng cổ
theo lối ca chay (không có đờn phụ họa), hay ca theo tiếng đờn. Ca Vọng cổ hay nhứt là
lúc xuống xề khi người nghệ sĩ chuyển giọng từ nhịp cao (hoặc
trung) xuống một âm vực thấp hơn, thường kéo dài và ngân nga, để tạo cảm giác
trầm buồn, sâu lắng, và nhấn mạnh cảm xúc như nỗi đau, tiếc nuối, hoặc tâm trạng
u hoài. Khi người thưởng ngoạn cảm nhận được tâm trạng mà người nghệ sĩ vừa
truyền tải, họ vổ tay tán thưởng. Ngoạn mục hơn nữa là lúc dàn đờn bắt đầu tấu
trở lại, ăn khớp với lúc người nghệ sĩ xuống xề; nên tiếng vổ tay của khán giả
còn là lời khen thưởng đến các nhạc công.
Từ bao nhiêu năm qua, không ít
người nghệ sĩ đã thành danh bằng tiếng ca Vọng cổ “mùi” độc đáo, có 1 không 2.
Những ai từng lớn lên ở miền nam trong những năm 1950 – 1975 chắc sẽ không thể
nào quên thời vàng son của cải lương, khi các tuồng cải lương được truyền thanh
từ thành thị đến thôn quê, ngày này sang ngày khác, sáng cũng như chiều. Nhiều
nghệ sĩ bây giờ không còn nữa, nhưng tiếng hát của họ vẫn còn vang mãi trong
lòng người mộ điệu.
|
Người được nhắc đến nhiều nhứt là
“đệ nhứt danh ca” Út
Trà Ôn, với bài Tình
anh bán chiếu, do “đệ nhứt soạn giã” Viễn Châu sáng
tác năm 1959. |
|
|
Cũng chính soạn giã Viễn Châu là
người đã đưa cảnh bông ô môi rơi lã chã trên bến sông buồn, làm cảnh mở đầu cho
lời kể 1 chuyện tình dang dở, trong bài Vọng cổ Bên Rặng Ô Môi. Hãy lắng
nghe nghệ sĩ Tấn
Tài đau đớn kể tâm sự của người trai trở lại quê nhà sau bao năm xa cách;
những tưởng sẽ gặp lại người yêu, nào dè gặp phải cảnh trái ngang. Tiếng hát
lúc thấp, lúc cao, lúc to, lúc nhỏ của Tấn Tài có sức hút ma mị; và nhiều người
mộ điệu đã tôn vinh ông là hoàng
đế dĩa nhựa. |
|
![]() |
| Văn Hường |
![]() |
| Thanh Nga |
Trong thế kỷ trước, khi nước nhà còn chưa chìm trong khói lửa, người dân miền nam vui sống trong cảnh thanh bình và cải lương đạt đỉnh vàng son. Không ai có thể quên được nữ nghệ sĩ Thanh Nga thanh sắc vẹn toàn. Trong tiếng hát của cô, người nghe cảm thấy có tiếng nấc, tiếng rung, mang nỗi đau thương sâu lắng. Tiếc thay 1 vì sao sáng rực đã rơi quá sớm, làm người mộ điệu hụt hẫng, tiếc thương. Nhưng, tiếng hát của cô còn vang mãi, như trong Tiếng Hát Thanh Nga.
![]() |
| Út Bạch Lan |
Một nữ nghệ sĩ khác cũng được rất nhiều người mến mộ: sầu nữ Đệ nhứt đào thương Út Bạch Lan. Tiếng hát của cô lúc nào cũng ngọt lịm, từ thuở ban sơ cho đến lúc lìa trần. Những vai cô đóng, những bài cô ca, đều mang cảnh trái ngang, như trong đời thật của cô. Soạn giả Viễn Châu cảm thông với số kiếp phũ phàng của cô, nên đã viết bài Hoa Lan Trắng dành cho người con gái mang tên Bạch Lan. Người ta còn cảm phục tấm lòng hiền hòa, nhân ái của cô, trọn đời chăm lo cho người khác. Tiếng hát của cô còn mãi trong những bài ca đơn lẻ, hay trong những sưu tập như Út Bạch Lan - Giọng ca còn mãi với đời, hay Giọng ca Út Bạch Lan.
Những tên tuổi lớn trong lãnh vực
Vọng cổ còn rất nhiều. Mỗi người đều có chất giọng riêng và để lại cho đời những
dấu ấn qua các bài Vọng cổ có 1 không 2. Thí dụ như: Hữu Phước với Đội gạo đường xa, Minh Cảnh
với Tu Là Cội Phúc, Thanh
Sang với Nhớ
mẹ, Lệ Thủy trong Hạng
Võ Biệt Ngu Cơ, Bo Bo Hoàng trong vở Tiếng súng một giờ khuya
năm 1965, v.v. Nếu bạn thích nghe những bài Vọng cổ xưa, mời bạn ghé thăm Bản sắc phương nam - Vọng cổ.
Vọng cổ còn hay ở chỗ hai người
có thể củng hát với nhau trong 1 bài: 1 người tung, 1 người hứng – khác với lối
song ca trong tân nhạc. Tiêu biểu là màn tỏ tình thật lãng mạn của Doanh Doanh
với Lệnh Hồ Xung trong Tiếu
Ngạo Giang Hồ do Bạch Tuyết cùng Tấn Tài thủ diễn. Hãy lắng nghe lời đối
thoại của hai người mới cảm phục được cái khéo léo trong việc chọn lọc từ ngữ của
soạn giả Loan Thảo.
Mời bạn tiếp tục thưởng thức tài hoa của Loan Thảo qua vở Lan
và Điệp với màn trình diễn của cặp bài trùng Chí Tâm – Thanh Kim Huệ.
Khác với các bản tân nhạc, bài Vọng
cổ được đóng khung trong bản Vọng cổ. Soạn giả phải chọn lời, ghép lại theo
đúng nhịp, đúng thanh. Người nghệ sĩ dùng giọng hát và phong cách trình diễn của mình, để chắp
cánh cho bài Vọng cổ. Mời bạn nghe bài Bông Ô Môi qua các tiếng
hát của Tấn Tài, Võ Hoài Long, Hồ Minh Đương, Tấn
Sang, Thanh Tuấn,
Quang Lập ... Mời bạn
nghe kỳ tài Phước
Bến Tre nhái giọng nhiều ca sĩ nổi danh: Tướng
cướp Bạch Hải Đường, Út
Trà Ôn (Tình Anh Bán Chiếu), Văn Hường ...
Ngoài bài ca và tiếng hát, Vọng cổ
còn có đờn Vọng cổ. Điển hình là có rất nhiều danh cầm vang tiếng xưa nay, nhất
là qua tiếng đờn guitar phím lõm. Nhân nói đến tiếng đờn Vọng cổ, bạn có biết rằng
bản Vọng cổ không được nhắc đến trong các bản đờn ca cải
lương và không thuộc vào nhóm 20
bản tổ trong cải lương, hay không? Thay vào đó, người ta chỉ nhắc đến Dạ
cổ hoài lang (tiền thân của Vọng cổ) và bây giờ, người ta chỉ thích nói
đến “Vọng cổ”. “Cổ” là 1 chữ Hán, đồng âm với 2 nghĩa: trống và xưa, nên người
ta hiểu từ “Vọng cổ” theo 2 nghĩa khác nhau. Người viết chuộng lối giải thích “Vọng
cổ = hướng
về xưa cũ” vì cách này nghe lãng mạn hơn.
Trong bài này, người viết không
muốn viết về lịch sử của Vọng cổ vì trên Internet đã có nhiều tài liệu về chủ đề
này. Bài Dân ca dân nhạc
VN – Vọng cổ có rất nhiều chi tiết thú vị về Vọng cổ, thí dụ như tại sao phải
sửa guitar thành guitar phím lõm, tại sao bản Vọng cổ có nhiều dây (thí dụ như dây
xề “bóp”, dây xề “buông”, dây Sài Gòn, dây Rạch Giá, dây Tháp mười, ...). Hai
dây thường được nói đến là dây đào và dây kép. Nói nôm na thì dây đào dành cho
giọng nữ và dây kép dành cho giọng nam (như đào và kép đóng tuồng cải lương). Nói
rõ hơn thì dây đào (còn gọi là dây Hò) có nốt gốc là Ré, được sử dụng để tạo
ra âm thanh trầm, thường được dùng trong các bài bản có tính chất buồn, ai oán.
Dây kép có nốt gốc là Sol. Khi đờn dây kép, người chơi sẽ tạo ra âm thanh cao hơn, mang tính chất
tươi sáng và vui vẻ hơn. Nói như vậy, thì rõ ràng từ lâu người ta đã đưa âm nhạc
ngũ cung trong cổ nhạc vào lối viết nhạc Tây phương.
Ngày xưa, ai muốn học đờn Vọng cổ
phải tìm đến “thầy đờn” để xem thầy “đờn”, rồi lắng nghe và tập đờn theo; nhiêu
khê lắm. Vì vậy mà muốn đờn Vọng cổ cho giỏi, thông thường người ta phải mất 1
thời gian khá dài (trừ những người có khả năng thiên phú, nhất là những người
khiếm thị); nói chi đến việc làu thông tất cả gần 200 bản tổ trong cải lương! Khi guitar trở nên
thông dụng, người ta tạo ra ký âm số cho bản Vọng cổ căn cứ theo dây đờn, ngăn
đờn, ngón tay khi đờn bằng guitar, như trong hình dưới đây.
![]() |
Các “nốt” nhạc theo âm điệu ngũ cung (hò, xự, xang, xê, cống) được gọi là “chữ nhạc”. Ngoài ra còn có 2 phụ âm là y và oan (hay còn gọi là phan). Khoảng cách âm thanh giữa 2 chữ nhạc gọi là cung. Người mới học có thể gảy “từng tưng” bản Vọng cổ trên guitar, nhưng chưa hay vì chưa biết kỹ thuật “nhấn” và “rung” dây đờn.
![]() |
Không lẽ ngoài guitar, người ta
không thể học đờn Vọng cổ với các nhạc cụ khác hay sao? Đó là lý do mà lối ký
âm bản Vọng cổ như trong tân nhạc, ra đời; mời bạn xem Sheet nhạc
6 câu vọng cổ. Dưới dây là 1 thí dụ
Từ đó, người thưởng ngoạn có dịp
nghe bản Vọng cổ qua các loại đàn khác nhau, tân cũng như cồ. Không những bản Vọng
cổ được ký âm theo lối tân nhạc, mà bài Vọng cổ cũng được phổ theo lối tân nhạc
như bài Đội
gạo đường xa dưới đây.
- Bài Vọng Cổ Huyền Thoại Của 2 Cố Nhạc Sỹ Hoàng ân và Năm Cơ (Bé Sáu Và Minh Quyền)
- Song tấu Vọng Cổ (Văn Giỏi và Thanh Hải)
- Song tấu Hạ Uy Di và Sến (Thành Trí và Hữu Quí)
- Guitar
(Hữu Hạnh) - Sến (Tuấn Thành) - Bầu (Nhất Thuyên)
- Tiếng Đàn Của Nhạc Sĩ Hạ và Minh Phát (Sến và Hạ Uy Di)
Nhiều nghệ sĩ đờn Vọng cổ được tôn vinh là “bậc
thầy” vì họ làu thông
cách đờn Vọng cồ bằng nhiều nhạc cụ khác nhau, thí dụ như Chí Tâm, Ngọc Thịnh, Hữu Phước, Thanh Hải, Thanh
Điền (tân + cổ nhạc) ... Cuối năm 2023, “cây đàn biết nói” Thanh Điền từ giả cõi đời;
giữa năm 2025, Thanh
Hải qua đời. Hai vì sao rơi rụng, mang lại nhiều nỗi bàng hoàng, tiếc thương
cho người mộ điệu. Dư âm của tiếng đàn của họ vẫn còn vang mãi trong hư không; như luyến tiếc, không muốn
rời xa.
Trong những màn trình diễn Vọng cổ
nổi tiếng xưa nay, người viết đặc
biệt rất ngưỡng mộ tiếng hát và tiếng đàn của 2 người nữ khiếm thị, dắt
díu nhau, lang thang trên đường phố Sài Gòn. Mời bạn thưởng thức























