Pages

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2025

Vọng cổ

Ai thích Vọng cổ, nhưng không có điều kiện tìm hiểu, xin mời xem Phi Vọng cổ bất thành cải lương để xem nghệ sĩ Chí Tâm trình bày những nét căn bản về Vọng cổ. Xem để biết một lỗi mà nhiều người mắc phải là 2 từ “ca” và “hát” thường được sử dụng không đúng cách khi nói về “cải lương” và “Vọng cổ”. 

Xem để biết nguồn gốc của “song lan”, biết các nhạc cụ trong “dàn đờn” Vọng cổ, biết cách các nhạc công hòa hợp để nâng cao tiếng đàn của 1  người khác trong dàn đờn, và biết CB (Ca Bịa) được dùng trong trường hợp nào. Người miền nam, không ai xa lạ gì với “rành 6 câu” (Vọng cổ) - ý muốn chỉ “rành rọt”; hay “bài bản” – ý muốn chỉ “theo đúng quy trình”, có đầu có đuôi. Bản Vọng cổ khác với bài Vọng cổ ở chỗ bản Vọng cổ là 1 thể điệu trong nhạc cải lương, có ký âm, giống như 1 bản nhạc không lời; trong khi bài Vọng cổ là lời ca viết theo điệu Vọng cổ.


Người ta có thể ca 1 bài Vọng cổ theo lối ca chay (không có đờn phụ họa), hay ca theo tiếng đờn. Ca Vọng cổ hay nhứt là lúc xuống xề khi người nghệ sĩ chuyển giọng từ nhịp cao (hoặc trung) xuống một âm vực thấp hơn, thường kéo dài và ngân nga, để tạo cảm giác trầm buồn, sâu lắng, và nhấn mạnh cảm xúc như nỗi đau, tiếc nuối, hoặc tâm trạng u hoài. Khi người thưởng ngoạn cảm nhận được tâm trạng mà người nghệ sĩ vừa truyền tải, họ vổ tay tán thưởng. Ngoạn mục hơn nữa là lúc dàn đờn bắt đầu tấu trở lại, ăn khớp với lúc người nghệ sĩ xuống xề; nên tiếng vổ tay của khán giả còn là lời khen thưởng đến các nhạc công.

Từ bao nhiêu năm qua, không ít người nghệ sĩ đã thành danh bằng tiếng ca Vọng cổ “mùi” độc đáo, có 1 không 2. Những ai từng lớn lên ở miền nam trong những năm 1950 – 1975 chắc sẽ không thể nào quên thời vàng son của cải lương, khi các tuồng cải lương được truyền thanh từ thành thị đến thôn quê, ngày này sang ngày khác, sáng cũng như chiều. Nhiều nghệ sĩ bây giờ không còn nữa, nhưng tiếng hát của họ vẫn còn vang mãi trong lòng người mộ điệu. 

Út Trà Ôn

Người được nhắc đến nhiều nhứt là “đệ nhứt danh ca” Út Trà Ôn, với bài Tình anh bán chiếu, do “đệ nhứt soạn giã” Viễn Châu sáng tác năm 1959.  Nghe Tình anh bán chiếu như nghe lời than thở của người mang mối tình câm, đơn phương, chưa kịp mở lời. Yêu là cố làm những gì cho đẹp lòng người yêu. Hụt hẫng khi chưa có dịp bày tỏ tình cảm, mà người (anh) yêu đã đi lấy chồng! Chuyện tình đơn giản, lời ca mộc mạc, đủ để diễn tả tâm trạng của người dân quê. Người ca sĩ đã truyền tải được niềm đau của kẻ thất tình bằng giọng ca đậm nét chân tình. Người nghe lim dim đôi mắt, gật gù, thả hồn theo lời ca; để tiếng hát của Út Trà Ôn còn giúp ông giữ mãi ngôi vị vua Vọng cổ.

Viễn Châu
Bông Ô Môi

Cũng chính soạn giã Viễn Châu là người đã đưa cảnh bông ô môi rơi lã chã trên bến sông buồn, làm cảnh mở đầu cho lời kể 1 chuyện tình dang dở, trong bài Vọng cổ Bên Rặng Ô Môi. Hãy lắng nghe nghệ sĩ Tấn Tài đau đớn kể tâm sự của người trai trở lại quê nhà sau bao năm xa cách; những tưởng sẽ gặp lại người yêu, nào dè gặp phải cảnh trái ngang. Tiếng hát lúc thấp, lúc cao, lúc to, lúc nhỏ của Tấn Tài có sức hút ma mị; và nhiều người mộ điệu đã tôn vinh ông là hoàng đế dĩa nhựa.

Tấn Tài

Văn Hường

Ngoài các vua và hoàng đế Vọng cổ vừa kể, người ta không thể không nhắc đến vua Vọng cổ hài Văn Hường. Chuyện bắt đầu từ ý nghĩ là tại sao khi nghe Vọng cổ, người ta lại khóc mà không cười. Văn Hường đã tạo cho mình 1 hướng đi riêng, và dưới sự hướng dẫn của Thầy Bảy Viễn Châu, ông đã đem lại niềm vui, tiếng cười cho khán giả qua các bài Vọng cổ hài. Đặc biệt nhất là lối hát “ự” ... “ự” không giống ai, trước khi xuống xề. Về sau, nghệ sĩ hài Thanh Nam bắt chước lối hát này, với giọng hát khá giống Văn Hường và cũng được nhiều người mến mộ.

Thanh Nga

Trong thế kỷ trước, khi nước
nhà còn chưa chìm trong khói lửa, người dân miền nam vui sống trong cảnh thanh bình và cải lương đạt đỉnh vàng son. Không ai có thể quên được nữ nghệ sĩ Thanh Nga thanh sắc vẹn toàn. Trong tiếng hát của cô, người nghe cảm thấy có tiếng nấc, tiếng rung, mang nỗi đau thương sâu lắng. Tiếc thay 1 vì sao sáng rực đã rơi quá sớm, làm người mộ điệu hụt hẫng, tiếc thương. Nhưng, tiếng hát của cô còn vang mãi, như trong Tiếng Hát Thanh Nga

Út Bạch Lan

Một nữ nghệ sĩ khác cũng được rất nhiều người mến mộ: sầu nữ Đệ nhứt đào thương Út Bạch Lan. Tiếng hát của cô lúc nào cũng ngọt lịm, từ thuở ban sơ cho đến lúc lìa trần. Những vai cô đóng, những bài cô ca, đều mang cảnh trái ngang, như trong đời thật của cô. Soạn giả Viễn Châu cảm thông với số kiếp phũ phàng của cô, nên đã viết bài Hoa Lan Trắng dành cho người con gái mang tên Bạch Lan. Người ta còn cảm phục tấm lòng hiền hòa, nhân ái của cô, trọn đời chăm lo cho người khác. Tiếng hát của cô còn mãi trong những bài ca đơn lẻ, hay trong những sưu tập như Út Bạch Lan - Giọng ca còn mãi với đời, hay Giọng ca Út Bạch Lan.

Những tên tuổi lớn trong lãnh vực Vọng cổ còn rất nhiều. Mỗi người đều có chất giọng riêng và để lại cho đời những dấu ấn qua các bài Vọng cổ có 1 không 2. Thí dụ như: Hữu Phước với Đội gạo đường xa, Minh Cảnh với Tu Là Cội Phúc, Thanh Sang với Nhớ mẹ, Lệ Thủy trong Hạng Võ Biệt Ngu Cơ, Bo Bo Hoàng trong vở Tiếng súng một giờ khuya năm 1965, v.v. Nếu bạn thích nghe những bài Vọng cổ xưa, mời bạn ghé thăm Bản sắc phương nam  - Vọng cổ.

Vọng cổ còn hay ở chỗ hai người có thể củng hát với nhau trong 1 bài: 1 người tung, 1 người hứng – khác với lối song ca trong tân nhạc. Tiêu biểu là màn tỏ tình thật lãng mạn của Doanh Doanh với Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ do Bạch Tuyết cùng Tấn Tài thủ diễn. Hãy lắng nghe lời đối thoại của hai người mới cảm phục được cái khéo léo trong việc chọn lọc từ ngữ của soạn giả Loan Thảo. Mời bạn tiếp tục thưởng thức tài hoa của Loan Thảo qua vở Lan và Điệp với màn trình diễn của cặp bài trùng Chí Tâm – Thanh Kim Huệ.

Khác với các bản tân nhạc, bài Vọng cổ được đóng khung trong bản Vọng cổ. Soạn giả phải chọn lời, ghép lại theo đúng nhịp, đúng thanh. Người nghệ sĩ dùng giọng hát phong cách trình diễn của mình, để chắp cánh cho bài Vọng cổ. Mời bạn nghe bài Bông Ô Môi qua các tiếng hát của Tấn Tài, Võ Hoài Long, Hồ Minh Đương, Tấn Sang, Thanh Tuấn, Quang Lập ... Mời bạn nghe kỳ tài Phước Bến Tre nhái giọng nhiều ca sĩ nổi danh: Tướng cướp Bạch Hải Đường, Út Trà Ôn (Tình Anh Bán Chiếu), Văn Hường ...

Ngoài bài ca và tiếng hát, Vọng cổ còn có đờn Vọng cổ. Điển hình là có rất nhiều danh cầm vang tiếng xưa nay, nhất là qua tiếng đờn guitar phím lõm. Nhân nói đến tiếng đờn Vọng cổ, bạn có biết rằng bản Vọng cổ không được nhắc đến trong các bản đờn ca cải lương và không thuộc vào nhóm 20 bản tổ trong cải lương, hay không? Thay vào đó, người ta chỉ nhắc đến Dạ cổ hoài lang (tiền thân của Vọng cổ) và bây giờ, người ta chỉ thích nói đến “Vọng cổ”. “Cổ” là 1 chữ Hán, đồng âm với 2 nghĩa: trống và xưa, nên người ta hiểu từ “Vọng cổ” theo 2 nghĩa khác nhau. Người viết chuộng lối giải thích “Vọng cổ = hướng về xưa cũ” vì cách này nghe lãng mạn hơn.

Trong bài này, người viết không muốn viết về lịch sử của Vọng cổ vì trên Internet đã có nhiều tài liệu về chủ đề này. Bài Dân ca dân nhạc VN – Vọng cổ có rất nhiều chi tiết thú vị về Vọng cổ, thí dụ như tại sao phải sửa guitar thành guitar phím lõm, tại sao bản Vọng cổ có nhiều dây (thí dụ như dây xề “bóp”, dây xề “buông”, dây Sài Gòn, dây Rạch Giá, dây Tháp mười, ...). Hai dây thường được nói đến là dây đào và dây kép. Nói nôm na thì dây đào dành cho giọng nữ và dây kép dành cho giọng nam (như đào và kép đóng tuồng cải lương). Nói rõ hơn thì dây đào (còn gọi là dây Hò) có nốt gốc là Ré, được sử dụng để tạo ra âm thanh trầm, thường được dùng trong các bài bản có tính chất buồn, ai oán. Dây kép có nốt gốc là Sol. Khi đờn dây kép, người chơi sẽ tạo ra âm thanh cao hơn, mang tính chất tươi sáng và vui vẻ hơn. Nói như vậy, thì rõ ràng từ lâu người ta đã đưa âm nhạc ngũ cung trong cổ nhạc vào lối viết nhạc Tây phương.

Ngày xưa, ai muốn học đờn Vọng cổ phải tìm đến “thầy đờn” để xem thầy “đờn”, rồi lắng nghe và tập đờn theo; nhiêu khê lắm. Vì vậy mà muốn đờn Vọng cổ cho giỏi, thông thường người ta phải mất 1 thời gian khá dài (trừ những người có khả năng thiên phú, nhất là những người khiếm thị); nói chi đến việc làu thông tất cả gần 200 bản tổ trong cải lương! Khi guitar trở nên thông dụng, người ta tạo ra ký âm số cho bản Vọng cổ căn cứ theo dây đờn, ngăn đờn, ngón tay khi đờn bằng guitar, như trong hình dưới đây.

VỌNG CỔ (Lý thuyết)

Các “nốt” nhạc theo âm điệu ngũ cung (hò, xự, xang, xê, cống) được gọi là “chữ nhạc”. Ngoài ra còn có 2 phụ âm là y oan (hay còn gọi là phan). Khoảng cách âm thanh giữa 2 chữ nhạc gọi là cung. Người mới học có thể gảy “từng tưng” bản Vọng cổ trên guitar, nhưng chưa hay vì chưa biết kỹ thuật “nhấn” và “rung” dây đờn.

Ký Âm Ngũ Cung Và Ký Âm Số Trên Guitar Phím Lõm

Không lẽ ngoài guitar, người ta không thể học đờn Vọng cổ với các nhạc cụ khác hay sao? Đó là lý do mà lối ký âm bản Vọng cổ như trong tân nhạc, ra đời; mời bạn xem Sheet nhạc 6 câu vọng cổ. Dưới dây là 1 thí dụ

Từ đó, người thưởng ngoạn có dịp nghe bản Vọng cổ qua các loại đàn khác nhau, tân cũng như cồ. Không những bản Vọng cổ được ký âm theo lối tân nhạc, mà bài Vọng cổ cũng được phổ theo lối tân nhạc như bài Đội gạo đường xa dưới đây.


Bây giờ, mời bạn nghe bản Vọng cổ được thể hiện qua các nhạc cụ cổ, kim, bằng cách bấm vào hình của từng loại đờn dưới đây
Mời bạn thưởng thức vài màn song tấu, hòa điệu vọng cổ được nhiều người nhắc đến sau đây:

Nhiều nghệ sĩ đờn Vọng cổ được tôn vinh là “bậc thầy” vì họ làu thông cách đờn Vọng cồ bằng nhiều nhạc cụ khác nhau, thí dụ như Chí Tâm, Ngọc ThịnhHữu Phước, Thanh Hải, Thanh Điền (tân + cổ nhạc) ... Cuối năm 2023, “cây đàn biết nói” Thanh Điền từ giả cõi đời; giữa năm 2025, Thanh Hải qua đời. Hai vì sao rơi rụng, mang lại nhiều nỗi bàng hoàng, tiếc thương cho người mộ điệu. Dư âm của tiếng đàn của họ vẫn còn vang mãi trong hư không; như luyến tiếc, không muốn rời xa.

Trong những màn trình diễn Vọng cổ nổi tiếng xưa nay, người viết đặc biệt rất ngưỡng mộ tiếng hát và tiếng đàn của 2 người nữ khiếm thị, dắt díu nhau, lang thang trên đường phố Sài Gòn. Mời bạn thưởng thức